Vâng lời — bài học đầu tiên

Trong việc dạy dỗ con nít, bài học đầu tiên và căn bản nhứt chính là vâng lời. Không phải vâng lời mù quáng, càng không phải vâng lời vì sợ, mà là vâng lời vì hiểu rằng người ra lệnh có quyền và có trách nhiệm hướng dẫn mình làm điều đúng.

Nhiều ba má ngại dạy con vâng lời sớm, sợ con bị gò bó, mất tự do. Nhưng thật ra, không có vâng lời thì không có tự do. Một đứa trẻ không biết vâng lời cha mẹ thì lớn lên cũng khó mà tự chủ, và rốt cuộc sẽ làm nô lệ cho tính tình, ham muốn, hay hoàn cảnh của nó.

Vâng lời không phải là mục đích cuối cùng, nhưng là nền móng cho mọi đức hạnh khác. Một đứa trẻ biết vâng lời thì dễ dạy dỗ; một đứa không biết vâng lời thì mọi lời khuyên bảo đều trở nên vô ích. Người ta không thể xây nhà khi nền móng còn lỏng lẻo.

Ba má cần nhớ rằng, khi ra lệnh cho con, phải ra lệnh cho đàng hoàng. Đừng nói nửa chừng, đừng nói rồi bỏ đó, càng đừng nói mà chính mình cũng không tin là cần thiết. Một mệnh lệnh đưa ra mà không được thi hành sẽ làm suy yếu quyền làm cha mẹ, và dạy cho con nít một bài học rất nguy hiểm: rằng lời nói của ba má không nhất thiết phải nghe theo.

Cũng vậy, đừng ra lệnh trong lúc nóng giận. Lệnh xuất phát từ cơn bực bội thì thường không công bằng, và dễ khiến con phản kháng trong lòng. Nhưng khi đã suy nghĩ chín chắn rồi, đã quyết điều đó là đúng, thì phải kiên quyết. Nhân nhượng sau khi đã ra lệnh không phải là thương con, mà là làm hại con.

Có người cho rằng bắt con vâng lời là đàn áp cá tính. Thật ra, kỷ luật đúng đắn không giết chết cá tính, mà uốn nắn nó. Cây non không được chống đỡ thì sẽ cong queo; con nít không được dạy vâng lời thì tính tình sẽ lệch lạc.

Ba má phải nhớ rằng, con nít học nhiều nhứt không phải từ lời nói, mà từ cách ba má sống. Nếu cha mẹ không tôn trọng lẫn nhau, nếu lời nói không đi đôi với việc làm, thì đừng mong con nít học được sự vâng lời chân thật.

Dạy con vâng lời là một công việc đòi hỏi kiên nhẫn, tự chủ và nhất quán. Nhưng công việc đó đáng cho ba má bỏ công sức, vì nó đặt nền cho cả đời sống luân lý của con về sau.

Dạy con từ thuở còn thơ

Những điều được nói ra trong quyển sách nhỏ nầy vốn được rút ra từ kinh nghiệm thật trong đời sống làm cha mẹ. Tôi không viết với tư cách của một nhà lý thuyết về giáo dục, mà như một người đã từng sai, từng hối hận, rồi học lại từ chính những sai lầm ấy. Nhiều người làm cha mẹ, vì thương con, nên thường nhân nhượng hay nôn nóng, đến chừng hậu quả hiện ra mới giật mình. Tôi cũng từng ở trong cảnh đó. Những bài học tôi rút ra, tôi xin chia lại ở đây, mong rằng chúng có thể giúp người khác tránh khỏi những khổ tâm mà tôi đã nếm qua.

Khi nói đến việc dạy con, nhiều ba má thường nghĩ ngay đến chuyện làm sao cho con học giỏi, ngoan ngoãn, vâng lời. Nhưng tôi tin rằng việc tập cho con cái biết tự chủ, biết làm đúng dù không ai nhìn thấy, còn quan trọng hơn nhiều. Chính điều đó mới làm nên phẩm hạnh và sức mạnh của một đời người.

Quyển sách nầy không nhằm dạy theo công thức, cũng không hứa hẹn kết quả chắc chắn cho mọi gia đình. Mỗi đứa trẻ là một tâm hồn riêng, và chỉ có ba má nó mới hiểu nó tường tận. Tôi chỉ mong những “gợi ý” nầy — những điều nhỏ nhặt mà đôi khi ta hay bỏ qua — có thể giúp các ba má nhìn lại cách mình cư xử với con, để từ đó dạy dỗ chúng một cách dịu dàng nhưng kiên quyết hơn.

Nếu có điều nào viết ra khiến ai đó phải suy nghĩ lại về thái độ của mình đối với con cái, thì công việc của tôi xem như không uổng. Tôi tin rằng bổn phận làm cha mẹ là một thiên chức thiêng liêng, và rằng không có việc gì ở đời đáng cho ta dốc lòng hơn là dẫn dắt một linh hồn non trẻ đi trên con đường ngay thẳng.

H. Clay Trumbull
Philadelphia, tháng Ba năm 1890

Trẻ em như bê tông ướt

Có một khung thời gian nhất định …

Dịch từ bài viết Children as a Concrete Pour của Douglas Wilson

Một trong những điều đáng sợ nhất trong cách Đức Chúa Trời đối xử với chúng ta, là Ngài thường xuyên giao những linh hồn bất tử vào tay cha mẹ — những người mà, ít nhất là với đứa đầu lòng, toàn là tay ngang. Có cái háo hức lúc sanh nở, có cơn xúc động trào dâng khi lần đầu bồng con trên tay, có niềm vui gia đình tụ họp nghe mình công bố tên đứa nhỏ. Có tất cả những thứ đó.

Nhưng rồi sẽ đến lúc, một hai ngày sau, khi cô y tá trao đứa bé cho bạn (theo cả hai nghĩa), và nói rằng bạn có thể về nhà. Thủ tục ra viện đã xong xuôi. Bạn cúi nhìn/nhìn xuống đứa trẻ yếu ớt — ý tôi là, hoàn toàn không có khả năng tự vệ — rồi nghĩ bụng: “Ý cô là, chúng tôi có thể cứ vậy mà đi thiệt sao?” Bạn cảm thấy có gì đó không đúng. Bạn cảm thấy có gì đó sai sai. Bạn cần giấy phép để đi câu cá. Bạn cần bằng cấp để cắt tóc. Bạn cần bằng lái để lái xe. Nhưng bạn có thể ngang nhiên mang một linh hồn bất tử về nhà, như thể bạn vừa lấy nó ở một cửa hàng tiện lợi “Grab and Go” sao?

Nhân tiện, mấy điều trên không nên được hiểu là tôi tán thành mọi yêu cầu giấy phép của nhà nước. Chuyện đó để bàn riêng. Nếu nhà nước bắt đầu cấp phép cho cha mẹ thì sẽ họ cũng sẽ làm hư việc đó thôi. Điều đó không làm nhẹ đi gánh nặng mà những bậc cha mẹ khôn ngoan cảm nhận khi đối mặt với trách nhiệm mà họ đang nắm giữ.

Tất cả chuyện này thật là choáng ngợi — và đáng choáng ngợp thiệt. Vậy mà Chúa cứ để chuyện đó tiếp diễn. Ngài cứ tiếp tục gửi những đứa bé yếu ớt vô nhà của những người hoàn toàn chưa rành rẽ gì. Hết lần này tới lần khác.

Có hai cách phản ứng cơ bản đối với điều này, và chúng tác động đến một trong những câu hỏi lớn liên quan: đó là vấn đề giáo dục chính quy. Hai cách phản ứng đó là: một bên là sự tiếp nhận khiêm nhường, và bên kia là sự huênh hoang độc đoán. Cách thứ hai làm tôi nhớ đến câu đùa cũ rằng bạn luôn có thể chỉ ra một người tốt nghiệp Harvard, nhưng bạn chẳng thể chỉ bảo được anh ta điều gì.

Tôi có vẻ như đang chuyển chủ đề, nhưng thực sự là không. Ráng kiên nhẫn với tôi. Tôi từng có may mắn tự xây căn nhà thứ hai của mình, một kinh nghiệm học hỏi không nhỏ. Nathan với tôi đã cùng nhau làm suốt gần năm năm trời. Một trong những điều tôi học được là đổ bê tông có cái lợi rất lớn so với nhiều kỹ thuật khác. Nói cho rõ thì nó cũng có thể thành cái hại. Là như vầy. Khi xe bồn tới và bắt đầu đổ thì thực tế là hai tiếng sau là xong hết. Cái sân có thể hơi lồi lõm chút đỉnh, nhưng bạn đã xong việc.

Trẻ con không thành nếp/cố định sau hai tiếng, nhưng chúng giống như bê tông ướt vậy. Có thể áp dụng được cho đủ thứ: tâm linh, tình cảm, tâm lý… nhưng đây là chuyên trang về giáo dục. Trong chuyện giáo dục chúng, trẻ em là bê tông ướt.

Có những việc trong đời mà vòng phản hồi diễn ra tương đối ngắn. Ví dụ, Đa-ni-ên và các bạn của mình đã yêu cầu thử nghiệm trong mười ngày để so sánh chế độ ăn của họ với thức ăn dọn trên bàn vua. “Xin thử các tôi tớ ông trong mười ngày, cho chúng tôi ăn rau và uống nước” (Đa-ni-ên 1:12). Bạn làm việc đó trong mười ngày và rồi kiểm tra. Sau khi kiểm tra, bạn vẫn còn thời gian để điều chỉnh. Nếu muốn, bạn có thể thử một phương án khác trong mười ngày nữa.

Nhưng trong giáo dục, quá nhiều cha mẹ có những quan điểm giáo điều về những phương pháp mà kết quả của chúng phải khoảng mười tám năm sau mới thấy. Trong giới Cơ Đốc, chúng ta quen với việc điểm danh hệ thống trường công như là nơi sản sinh những ví dụ này — chỉ ra việc dạy dỗ cẩu thả, phổ biến quan điểm lệch lạc về tình dục, nhồi nhét tư tưởng thiên tả. Nhưng trong chính cộng đồng chúng ta cũng có những ví dụ tương tự. Và “tương tự” ở đây là bê tông đông cứng trong một khuôn méo mó. Không phải tất cả đều méo giống nhau.

Một trong những ví dụ đau lòng nhất là việc thực hành “unschooling.” Đó là cách tiếp cận cho rằng (ngược với Kinh Thánh) trẻ em là những người học tự nhiên, tò mò tự nhiên, nên không cần bất cứ hệ thống chính thức nào để định hình và hướng dẫn việc học. Toàn bộ tiến trình do đứa trẻ dẫn dắt. Kỷ luật và cấu trúc giáo dục bị xem như cái áo bó buộc chỉ làm nghẹt thở và giết chết sự ngạc nhiên hồn nhiên khiến việc học trở nên vui thú.

Đôi khi, cách này được “vinh danh” bởi sự xuất hiện của một đứa trẻ kiểu C.S. Lewis — chỉ muốn có một nhà đầy sách để tự xây dựng thế giới trí thức của riêng mình. Được thôi. Tôi thừa nhận trường hợp đó.

Nhưng phần lớn thời gian, nó tạo ra một sự pha trộn giữa Huckleberry Finn và Chúa Ruồi. Có một nghĩa nào đó con nít thật sự tò mò tự nhiên. Chúng tò mò xem hút thử xì gà của ông cậu sau chuồng ngựa ra sao. Tò mò xem chơi bác sĩ với cô em họ ghé thăm ra sao. Tò mò xem chơi trò điện tử suốt mười tám tiếng ra sao. Phụ huynh cần nhớ rằng có những vết thương không chảy máu cho đến khi đứa trẻ trưởng thành.

Sẽ rất hay nếu thí nghiệm này kết thúc bằng việc con bạn xin mở lại những bản Nocturne của Chopin để ghi chép lần này. Nhưng nhiều khả năng hơn là nó kết thúc bằng những đứa trẻ học tại nhà “hoang dã” lao vào bàn bánh sau giờ nhóm Chúa nhật, ập xuống như bầy sói — giống cảnh quân Sennacherib trong bài thơ của Byron.

Tôi đã nhắc đến sự khiêm nhường. Dù việc đem một đứa trẻ sơ sinh về nhà có đáng sợ đến đâu — vì bạn chưa từng làm như vậy — thì cũng cần nhớ rằng dân sự Đức Chúa Trời đã làm điều này suốt nhiều thế kỷ. Con cái trong giao ước đã học trong trường lớp suốt những thế kỷ đó, ngồi thành hàng, học những điều được dạy. Riêng lẻ từng người chúng ta có thể không biết phải làm sao, nhưng với tư cách là một cộng đồng thì chúng ta biết. Tôi khuyên các bậc cha mẹ hãy tránh mọi hình thức thử nghiệm cấp tiến trên con cái mình. Chúng sẽ “đông cứng” nhanh hơn bạn tưởng.